Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực hiện đang là thách thức lớn. Thực trạng ấy đặt ra cho công tác đào tạo nghề nhiều đòi hỏi cấp thiết, nhất là những giải pháp căn bản với tầm nhìn xa, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu cao của thị trường lao động phong phú, đa dạng.
Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng cho thấy Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật cao. Về chất lượng nguồn nhân lực, nếu lấy thang điểm 10 thì Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm; xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB. Như vậy, chúng ta đang vấp phải một thực trạng hết sức khó khăn là vừa thiếu vừa mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu lao động qua đào tạo.
Chất lượng là ưu tiên hàng đầu
Không còn con đường nào khác là phải tập trung đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật chất lượng cao, có kỹ năng và phẩm chất. Muốn vậy, trước hết phải giải quyết được một mâu thuẫn khá nan giải, rằng ai cũng biết là học nghề có việc làm, có thu nhập nhưng tại sao số người lựa chọn học nghề vẫn không cao? Vẫn biết là tâm lý xã hội, tư duy khoa cử (chuộng bằng cấp, thích làm công hơn làm chủ vốn…) vốn ăn sâu vào nhận thức của người dân từ nhiều đời nay, dẫn đến lệch lạc trong quan niệm, nhận thức về học nghề, làm nghề. Cũng bởi vậy mà nhiều người cho rằng học nghề không có tương lai. Hầu hết việc tuyển dụng vào các cơ quan, tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, thậm chí cả doanh nghiệp cũng đều tuyển dụng người tốt nghiệp đại học… Nhưng đó chính là những hạn chế đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cùng hệ thống giáo dục – đào tạo và cả xã hội cần sớm tìm ra giải pháp khắc phục, trước hết từ trong nhận thức của mỗi người lao động.
Với việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), đào tạo nghề cũng như nhiều lĩnh vực khác ở Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi hơn để phát triển nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức. Mục tiêu mà Cộng đồng AEC hướng tới là tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động qua đào tạo, từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn với đầu tư. Trên thực tế, kỹ năng nghề của lao động các nước trong khu vực rất cao. Vì vậy, để lao động Việt Nam không thua trên sân nhà, cần phải xác định đây là lĩnh vực cạnh tranh ưu tiên ở cấp quốc gia, từ đó có những chính sách ưu tiên đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực, thông qua công tác đào tạo nghề.
Chuyển đổi theo yêu cầu thị trường
Làm thế nào để chúng ta có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động cả về số lượng và chất lượng? Chúng ta không thiếu giáo viên dạy nghề giỏi, không thiếu trường nghề tốt và không thiếu học sinh có năng khiếu, cần cù, sáng tạo. Nhưng, như trên đã trình bày, chúng ta đang thiếu người đi học nghề. Cùng đó, mối liên hệ giữa cơ sở dạy nghề, học viên và doanh nghiệp còn quá lỏng lẻo và ít phát huy tác dụng.
Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định những chính sách quan trọng về quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp với đào tạo nghề, trong đó đã có quy định điều khoản ưu tiên miễn thuế cho doanh nghiệp khi tham gia vào công tác đào tạo. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa các quy định này vẫn chưa được ban hành, khiến doanh nghiệp chưa mặn mà. Trong khi, ở nhiều nước, các doanh nghiệp hào hứng tiếp nhận người học đến thực hành, thực tập trong thời gian dài, giúp người học có trải nghiệm thực tế. Nhiều học viên đã có thể tạo ra sản phẩm, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, tiết kiệm được chi phí giảng dạy cho nhà trường. Ngược lại, ở nước ta, do không gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp khiến cho nhiều học viên sau khi ra trường được nhận vào doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại.
Trước những đòi hỏi mới của nền kinh tế, đào tạo nghề phải trở thành tâm điểm chú ý, có sức hấp dẫn lớn với người học, cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động.
Để khắc phục những khó khăn, bất cập nêu trên cần nhiều giải pháp đồng bộ từ vĩ mô đến vi mô, không chỉ ở giáo dục nghề nghiệp mà ở cấp quốc gia, liên quan đến nhiều lĩnh vực. Trước hết cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để tạo được sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức về tầm quan trọng của GDNN đối với toàn xã hội (cả người dân và cán bộ quản lý các cấp, các ngành). Cùng đó, Nhà nước cần có những cơ chế chính sách đồng bộ đi kèm, tập trung làm tốt công tác phân luồng, định hướng giáo dục nghề nghiệp và quản lý tốt các CSDN.
Hoạt động đào tạo nghề cần phải dần chuyển đổi phương thức dạy theo hướng đáp ứng yêu cầu của thị trường; chuyển hệ thống dạy nghề được quản lý tập trung, đầu tư chủ yếu từ ngân sách Nhà nước sang hệ thống dạy nghề được quản lý phi tập trung, phân cấp mạnh cho cơ sở. Sớm xây dựng và ban hành cơ chế quản lý khung trình độ quốc gia, cấu phần GDNN phù hợp với cơ chế chung của khung trình độ quốc gia. Mặt khác, cần thực hiện rà soát tổng thể đội ngũ nhà giáo GDNN để thực thiện chuẩn hóa và xây dựng lộ trình chuẩn hóa; nâng cao chất lượng nhà giáo thông qua đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm 100% số nhà giáo dạy các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, quốc tế và khu vực ASEAN được bồi dưỡng đạt chuẩn về kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm, ngoại ngữ, tin học.
Cần sớm cụ thể hóa các cơ chế, chính sách gắn kết giữa doanh nghiệp với cơ sở GDNN, triển khai áp dụng chính sách miễn thuế thu nhập cho doanh nghiệp khi tham gia hoạt động GDNN; hướng dẫn cách thức để doanh nghiệp dễ dàng, chủ động cùng với cơ sở GDNN tổ chức các hoạt động GDNN. Bằng lợi ích để thu hút doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo nghề.
Theo TS VŨ XUÂN HÙNG

